Nikaya Ngôn Ngữ Hiện Đại
Trang chủ › Tương Ưng Bộ › Cái Gì Vô Thường (13–15)

Cái Gì Vô Thường (13–15)

Bāhirātītādiyaṁdukkhasutta · SN35.216-218 · 15 đoạn

Ba bài kinh gộp lại dạy: các sắc — và mọi đối tượng ngoài — là khổ trong cả quá khứ, vị lai và hiện tại; cái gì khổ thì là vô ngã; cái gì vô ngã thì phải thấy là ‘không phải của tôi, không phải là tôi, không phải tự ngã của tôi’. Thấy như vậy đưa đến nhàm chán và giải thoát.

Điểm thực hành

Khi một đối tượng bên ngoài gây khổ, hãy đi tiếp chuỗi: nó là vô ngã, không phải của tôi — đừng kẹt lại ở việc trách móc đối tượng ấy.

Phẩm Sáu Mươi Bài Lược Thuyết Cái Gì Vô Thường (13–15) “Các sắc, này các Tỷ-kheo (vị tu sĩ khất thực), là khổ thuộc về quá khứ, vị lai và hiện tại. Cái gì là khổ, cái ấy là vô ngã. Cái gì là vô ngã, cần thấy nó đúng như nó thật là bằng trí tuệ đúng như sau: ‘Cái này không phải của tôi, tôi không phải là cái này, cái này không phải là tự ngã của tôi.’ Các tiếng là khổ thuộc về quá khứ, vị lai và hiện tại. Cái gì là khổ, cái ấy là vô ngã. Cái gì là vô ngã, cần thấy nó đúng như nó thật là bằng trí tuệ đúng như sau: ‘Cái này không phải của tôi, tôi không phải là cái này, cái này không phải là tự ngã của tôi.’ Các hương là khổ thuộc về quá khứ, vị lai và hiện tại. Cái gì là khổ, cái ấy là vô ngã. Cái gì là vô ngã, cần thấy nó đúng như nó thật là bằng trí tuệ đúng như sau: ‘Cái này không phải của tôi, tôi không phải là cái này, cái này không phải là tự ngã của tôi.’ Các vị là khổ thuộc về quá khứ, vị lai và hiện tại. Cái gì là khổ, cái ấy là vô ngã. Cái gì là vô ngã, cần thấy nó đúng như nó thật là bằng trí tuệ đúng như sau: ‘Cái này không phải của tôi, tôi không phải là cái này, cái này không phải là tự ngã của tôi.’ Các xúc là khổ thuộc về quá khứ, vị lai và hiện tại. Cái gì là khổ, cái ấy là vô ngã. Cái gì là vô ngã, cần thấy nó đúng như nó thật là bằng trí tuệ đúng như sau: ‘Cái này không phải của tôi, tôi không phải là cái này, cái này không phải là tự ngã của tôi.’ Các pháp là khổ thuộc về quá khứ, vị lai và hiện tại.

Cái gì là khổ, cái ấy là vô ngã. Cái gì là vô ngã, cần thấy nó đúng như nó thật là bằng trí tuệ đúng như sau: ‘Cái này không phải của tôi, tôi không phải là cái này, cái này không phải là tự ngã của tôi.’ Thấy như vậy, vị Thánh đệ tử có học nhàm chán đối với các sắc, các tiếng, các hương, các vị, các xúc và các pháp. Do nhàm chán, tham nhạt dần; do tham nhạt dần, vị ấy được giải thoát; khi đã giải thoát, trí biết rằng mình đã giải thoát khởi lên nơi vị ấy. Vị ấy biết rõ: ‘Sinh đã dứt, Phạm hạnh đã trọn, việc cần làm đã làm xong, không còn trở lại đời sống này nữa.’”