Ký sự về trưởng lão Pulinacaṅkamiya
Trưởng lão Pulinacaṅkamiya kể: xưa ông là thợ săn thú rừng, trong lúc tìm linh dương ông nhìn thấy con đường kinh hành; với tâm tịnh tín, vui mừng, ông ôm cát bằng vạt y và rải lên đường kinh hành của đấng Thiện Thệ quang vinh. Nhờ phước rải cát, suốt ba mươi mốt kiếp ông không rơi vào khổ cảnh, nay phiền não đã thiêu đốt hết và ông sống không còn lậu hoặc.
Điểm thực hànhTừ thợ săn trở thành người rải cát lên đường kinh hành: một hành động chăm sóc nhỏ cho lối đi của bậc tu hành cũng chuyển hướng cả đời người; hãy bắt đầu đổi nghề, đổi tâm bằng việc lành cụ thể.
Trưởng Lão Ký Sự Phẩm Naḷamāli Pulinacaṅkamiya
ở trong khu rừng hoang rậm.
Trong lúc tìm kiếm loài linh dương,
tôi đã nhìn thấy con đường kinh hành.
tôi đã ôm cát ở bên hông (bằng vạt y)
và đã rải lên đường kinh hành
Với tâm tịnh tín, với ý vui mừng,
của đấng Thiện Thệ quang vinh.
(Kể từ khi) tôi đã rải cát trước đây ba mươi mốt kiếp,
tôi đã rải cát
tôi không còn biết đến khổ cảnh;
điều này là quả báu của cát.
Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt,
tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói),
tôi sống không còn lậu hoặc.
Quả vậy,
tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh,
đã thực hành lời dạy đức Phật
Bốn (tuệ) phân tích,
tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng;
tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Nghĩa là
Trong thời quá khứ, tôi đã là thợ săn thú rừng, ở trong khu rừng hoang rậm; trong lúc tìm kiếm loài linh dương, tôi đã nhìn thấy con đường kinh hành. Tôi đã ôm cát ở bên hông bằng vạt y, và đã rải lên đường kinh hành; với tâm tịnh tín, với ý vui mừng, của đấng Thiện Thệ quang vinh. Ba mươi mốt kiếp trước, cát ấy tôi đã rải khi ấy; tôi không còn biết đến đường dữ; đó là quả của cát. Các phiền não của tôi đã bị thiêu đốt, mọi kiếp sống đã dứt sạch; như voi đực bứt đứt dây trói, tôi sống không còn lậu hoặc. Quả thật, tôi đã thành công tốt đẹp, trước mặt đức Phật cao nhất, tôi đã đạt ba minh; tôi đã làm theo lời dạy của đức Phật. Bốn tuệ phân tích, tám giải thoát và sáu thắng trí, tôi đã chứng đắc; tôi đã làm theo lời dạy của đức Phật.
Trưởng lão Pulinacaṅkamiya đã nói những lời kệ ấy như vậy. Ký sự về trưởng lão Pulinacaṅkamiya, bài thứ 10. Phẩm Naḷamālī là phẩm thứ bốn mươi tám. Phần tóm lược của phẩm này:
vị có trăm ngọn đuốc, vị có cây quạt,
món sữa đông, thẻ vật thực,
luôn cả bông hoa nguyệt quế ở núi,
trái cây vallikāra, vị dâng đôi dép,
và đường kinh hành rải cát.
Có chín mươi lăm câu kệ đã được tính đếm
bởi các bậc trí.
Nghĩa là
Vị có tràng hoa sậy, vị dâng ngọc ma-ni, vị có trăm ngọn đuốc, vị có cây quạt; món sữa đông, thẻ vật thực, luôn cả bông hoa nguyệt quế ở núi. Trái cây vallikāra, vị dâng đôi dép, và đường kinh hành rải cát; có chín mươi lăm câu kệ đã được tính đếm, bởi các bậc trí.